AI DỜI NGÀY THÁNH CỦA CHÚA TỪ NGÀY THỨ BẢY QUA NGÀY THỨ NHẤT CỦA TUẦN LỄ?
MS Dương Quốc Tùng Copyright © Peace & Happiness MInistry All rights reserved
|
Từ thuở tạo thiên lập địa, Thượng Đế Toàn Năng đă thiết lập ngày thứ bảy hàng tuần làm ngày thánh, ngày được Thượng Đế ban phước, và là ngày yên nghỉ cho loài người để kỷ niệm công cuộc tạo thế của Đấng Tạo Hoá, để nhân loại nhớ đến nguồn gốc của ḿnh đến từ đâu, để con người tưởng nhớ và thờ phượng Đấng đă tạo dựng nên vạn vật.
Ngày thứ bảy c̣n là dấu hiệu của những người tin Chúa. Ngày thứ bảy được Kinh Thánh gọi là “Ngày của Chúa” hay “Chúa Nhật.” (Xuất Êdíptô Kư 20:10; Êsai 58:13; Luca 6:5)
Trong ngày thứ bảy hay ngày Sabát, bắt đầu từ mặt trời lặn tối thứ sáu cho đến mặt trời lặn tối thứ bảy, con người yên nghỉ mọi công việc thường ngày, hướng về công việc thiêng liêng, và cùng đến ra mắt Thượng Đế để thờ phượng Ngài.
Ngày nầy là dấu hiệu đời đời cho dân sự trung tín của Ngài. Luật giữ ngày thứ bảy hay ngày Sabát là điều răn thứ tư trong bộ luật luân lư Mười Điều Răn bất di bất dịch mà Thượng Đế ban cho loài người.
Chính Đấng Cứu Thế khi c̣n ở dưới trần gian cũng trung tín để giữ ngày Sabát. Sau khi Chúa đă hy sinh, các môn đệ của Chúa cũng trung tín giữ ngày Sabát.
(Kinh Thánh: Sáng Thế Kư 2:1-3; Xuất Êdíptô Kư 20:8-11; Mác 2:27,28; Luca 4:16; Luca 23:56; Êxêchiên 20:12,20; Xuất Êdíptô Kư 31:16,17; Hêbơrơ 4:4,9-11; Êsai 56:6,7; 58:13,14; Công Vụ 13:13,14,42,43; 17:2; 18:4; Luca 23:56; Êsai 66:22,23; Rôma 3:31)
Trong trọn Kinh Thánh, chúng ta thấy rằng dân sự của Chúa, từ thời Cựu Ước đến thời Tân Ước, đều yên nghỉ và thờ phượng trong ngày Thứ Bảy hay ngày Sabát. Như vậy th́ người ta đă dời ngày thánh từ Thứ Bảy qua ngày Thứ Nhất của tuần lễ khi nào và ai đă làm điều nầy?
Chúng ta không có bằng cớ rơ ràng từ lịch sử để biết chính xác khi nào th́ Cơ đốc nhân bắt đầu giữ ngày thứ nhất của tuần lễ. Nhưng dù cho họ bắt đầu từ lúc nào đi nữa, các Cơ đốc nhân không hề có ư định dùng ngày thứ nhất của tuần lễ để thay thế cho ngày thứ bảy Sabát.
Một số sử gia đưa ra những bằng cớ sau đây về sự xuất hiện của hiện tượng giữ ngày thứ nhất của tuần lễ: |
1) Lễ Dâng Bó Lúa và Lễ Ngũ Tuần
Người Giu-đa giữ lễ tạ ơn Chúa về hoa quả đầu mùa (Lê Vi Kư 23:15,16), ngày lễ nầy sau ngày Sabát (Lê Vi Kư 23:11), và 50 ngày sau th́ có lễ Ngũ-tuần, đánh dấu mùa gặt được hoàn tất (Phục Truyền Luật Lệ Kư 16:9-10).
Chúng ta nhớ rằng hai lễ nầy được giữ hàng năm, chứ không phải hàng tuần. Đối với Cơ đốc nhân th́ Đức Chúa Giê-su là trái đầu mùa của sự sống lại (I Côrinhtô 15:20), sự sống lại của Chúa xảy ra vào ngày thứ nhất sau ngày Sabát, và 50 ngày sau trong lễ Ngũ tuần th́ Đức Thánh Linh ngự trên các môn đồ (Công Vụ Các Sứ Đồ 2:1-3).
V́ sự liên hệ và song song giữa 2 lễ nầy. Cho nên, lúc đầu Cơ đốc nhân chỉ giữ lễ kỷ niệm ngày Chúa sống lại hằng năm, và sau đó là lễ Ngũ tuần, cũng chỉ có tánh cách hàng năm mà thôi. | |
2) Ngày Thứ Nhất Của Tuần Lễ Tại Alexandria Và La Mă:
Vào năm 130 Tây lịch, tác giả Barnabas tại Alexandria, đă viết rằng ngày Sabát tượng trưng cho 1000 năm thứ bảy (1000 năm b́nh an) trong lịch sử của thế giới. Ông nói tiếp rằng, “ngày Sabát hiện tại không được Chúa chấp nhận, và Chúa đă làm cho ngày thứ tám (Sunday - chủ nhật), trở thành sự khởi đầu của một thế giới khác. Cho nên chúng ta giữ ngày thứ tám, là ngày Chúa Giê-su sống lại.” (1)
Vào năm 150 Tây lịch, Justin Martyr tại La Mă đă viết về ngày thứ nhất của tuần lễ như sau, “Và trong ngày gọi là thứ nhất của tuần lễ (Sunday), tất cả những người sống trong thành phố và trong miền quê hăy nhóm nhau lại trong một nơi, và những văn thư của các sứ đồ hay là sách viết của các tiên tri được đọc, nhiều hay ít tùy theo thời gian cho phép; sau đó, khi người đọc ngưng, người hội trưởng nói những lời khuyên dạy, và khuyến khích sống theo những điều tốt nầy.” Sau đó là lời cầu nguyện, lễ Tiệc Thánh, và hiến dâng cho người nghèo.(2)
Justin cho biết ba lư do tại sao Cơ đốc nhân nhóm họp trong ngày thứ nhất của tuần lễ: 1) v́ đó là ngày Đức Chúa Giê-su sống lại; 2) v́ đó là ngày Đức Chúa Trời dựng nên ánh sáng; 3) v́ ngày thứ nhất là ngày thứ tám, sau ngày thứ bảy, và cũng là ngày thứ nhất của tuần lễ.(3)
Cơ đốc nhân thấy có sự liên hệ giữa lễ Cắt b́ cho những bé trai trong Cựu Ước vào ngày thứ tám, với sự thờ phượng trong ngày thứ tám (ngày theo sau ngày thứ bảy).
Theo Sử gia Socrates Scholasticus, vào thế kỷ thứ 5 đă viết, “V́ dù cho hầu như phần lớn các hội thánh trên thế giới cử hành lễ Tiệc thánh vào ngày Sabát của mỗi tuần lễ, nhưng những Cơ đốc nhân tại Alexandria và La Mă, theo một truyền thống khác, đă ngưng làm điều nầy.” (4)
Hai thành phố nầy là nơi có nhiều người Do Thái cư ngụ nhất. Người Do Thái luôn chống lại sự đô hộ của đế quốc La Mă trên quốc gia Do Thái. Đồng thời họ nhất quyết không thờ hoàng đế La Mă như là một vị thần. Có nhiều cuộc nổi loạn nghịch lại chính quyền La Mă, đặc biệt là cuộc nổi loạn năm 70 Tây lịch, và vào năm 132-135 Tây-lịch do Bar Cocheba lănh đạo.
Những cuộc nổi loạn nầy đă khơi dậy chính sách bài trừ Do Thái của chính quyền La Mă. Cho đến năm 135 Tây-lịch, th́ chánh sách bài trừ Do Thái lên đến cao điểm. Hoàng đế La Mă Hadrian đày người Do Thái ra khỏi xứ Palestine. Trước đó th́ Hoàng đế Trajan đă ra lệnh cấm làm lễ Cắt b́ và giữ ngày Sabát.(5)
Nhất là tại hai thành phố Alexandria và La Mă, là nơi có nhiều người Do Thái định cư, Cơ đốc nhân t́m đủ mọi cách để khỏi bị ngộ nhận là người Do Thái. V́ thế ngày thứ nhất đă được dùng để thay thế hoàn toàn cho ngày Sabát, và được đa số hoan nghinh, để khỏi bị chính quyền La Mă bắt bớ lầm. |
| 3) Kiêng Ăn Trong Ngày Sabát
Ngoài ra tại Hội thánh La Mă c̣n có một thông lệ đặt ra biến ngày Sabát thành ngày kiêng ăn, là ngày buồn rầu, và ngày thứ nhất là ngày vui mừng hân hoan trong sự sống lại của Chúa. Giáo hoàng Sylvester (314-335 Tây-lịch) tuyên bố:
“Nếu mỗi ngày Chủ nhật (thứ nhất của tuần lễ), Cơ đốc nhân hân hoan v́ sự phục sinh (của Chúa Giê-su), th́ mỗi ngày Sabát phải có thái độ ghê tởm với người Giu-đa v́ Chúa bị chôn. Đúng vậy, tất cả các môn đồ của Chúa phải than khóc trong ngày Sabát, kêu gào v́ Chúa bị chôn, và người Giu-đa th́ vui mừng. Nhưng đau buồn tràn đầy trong ḷng những môn đồ đang kiêng ăn. Cũng một thể ấy, chúng ta đau buồn trong ngày Chúa bị chôn, và vui mừng trong ngày Chúa phục sinh. Giữ theo nghi lễ và cách ăn uống của người Giu-đa th́ không đúng (trong ngày Sabát).” (6)
Cho nên Cơ đốc nhân không hân hoan lắm trong việc chào đón ngày Sabát. V́ thế, mà ngày thứ nhất được chấp nhận cách dễ dàng.
|
|
|
4) Ảnh Hưởng Bởi Ngoại Giáo
Tới đây chúng ta thấy rằng, việc giữ ngày thứ nhất thay thế cho ngày thứ bảy Sabát không xảy ra ngay sau khi Đức Chúa Giê-su sống lại, mà măi đến hơn 100 năm sau đó. Hơn thế nữa, chỉ có hai thành phố làm điều nầy là tại Alexandria và La Mă.
Đại sử gia Neander đă chép như sau, “Ngày lễ Chủ nhật, cũng như tất cả những ngày lễ khác, chỉ là những điều lệ do loài người đặt ra, và nó đi ra ngoài ư định của các sứ đồ và của hội thánh đầu tiên về việc dời các luật lệ của ngày Sabát qua ngày Chủ nhật.” (7)
Sau khi 12 sứ đồ ĺa đời, vào cuối thế kỷ thứ 1, hội thánh của Chúa bắt đầu suy thoái. Hội thánh phải đối đầu với hai sự khó khăn: 1) sự bắt bớ từ chính quyền ngoại giáo La Mă; 2) ảnh hưởng của những tập tục hư nát, giáo điều sai lầm của ngoại giáo. Hội thánh mất đi ḷng tin trong sạch và trọn vẹn thuở ban đầu.
Cho đến năm 312, Hoàng đế La Mă là Constantine quy phục đạo v́ lư do chính trị, đă hợp thức hóa Cơ đốc giáo, miễn thuế cho các nhà truyền giáo, băi bỏ các cuộc hành quyết v́ đạo, cho xây cất những ngôi nhà thờ thật nguy nga.
Đạo của Chúa bây giờ trở nên một công cụ cho chính quyền. Các nhà lănh đạo tôn giáo vui hưởng vật chất và quyền lợi, đi theo đường lối của chính quyền La Mă hơn là đi theo đường lối của Chúa. Những người tin Chúa thật ḷng lại bị những nhà lănh đạo tôn giáo bắt bớ tàn sát, và họ phải âm thầm sống trong bóng tối để làm theo lời Chúa. Các cuộc cải cách đều bị dập tắt, măi đến thế kỷ thứ 16, cuộc cách mạng cải cách tôn giáo mới được thành công để đem lẽ thật của Chúa đến cho chúng ta ngày hôm nay.
Trước khi Hoàng đế Constantine hợp thức hóa hay quốc hữu hóa Cơ đốc giáo, vai tṛ lănh đạo giáo hội được chia ra giữa các vị Giám mục (Bishop). Mỗi vị lo quản nhiệm trong điạ phận của ḿnh. Ví dụ như: Giám mục tại La Mă quản nhiệm Ư-đại-lợi, Giám mục tại Carthage quản nhiệm Bắc Phi-Châu, Giám mục tại Giê-ru-sa-lem quản nhiệm vùng Palestine, Giám mục tại Alexandria quản nhiệm Ai-cập, Giám mục tại Antioch quản nhiệm Sy-ri, Giám mục tại Constantinople quản nhiệm miền đông của đế quốc La Mă (Nga Sô hiện đại)...
Nhưng vị Giám mục tại La Mă v́ nằm ngay thủ đô của đế quốc, quản nhiệm một hội thánh lớn tại thủ đô La Mă với số tín hữu có thể lên đến 30,000 người. Tự nhiên uy quyền của ḿnh vẫn được tôn trọng hơn. Thêm vào đó, sau khi được thừa nhận bởi chính quyền, vị Giám mục tại La Mă dùng những thủ đoạn chính trị để củng cố và nâng cao quyền hành của ḿnh, đàn áp hay loại trừ (dứt phép thông công - excommunicate) những vị Giám mục từ các nơi khác ra khỏi giáo hội nếu không đi theo đường lối của ḿnh.
V́ thế những giáo điều sai lầm đă xâm nhập vào hội thánh của Chúa một cách mau chóng qua vai tṛ của vị Giám mục tại La Mă (ngày nay gọi là Đức Giáo hoàng).
Trở lại vấn đề ngày Sabát, vào cuối thế kỷ thứ nhất Tây lịch, Thái Dương Thần giáo đă lan rộng trong khắp lănh thổ của La Mă. Tác giả Gaston H. Halsberghe đă viết rằng, “Vào đầu thế kỷ thứ hai Tây lịch, đạo Sol Invictus đă thống trị tại thủ đô La Mă và các phần khác trong lănh thổ đế quốc La Mă.” (8)
Dân La Mă đă thờ hoàng đế của họ như là Thần Mặt Trời, thêm vào đó với ảnh hưởng bởi quan niệm của người đông phương coi vua là Thiên tử (Con Trời), cùng những lư do chính trị khác đă khiến Thái Dương Thần giáo lan rộng trong giai đoạn nầy.
Những Cơ đốc nhân từ gốc Thái Dương Thần giáo rất dễ bị lôi cuốn hướng về ngày của mặt trời (Sunday) và đề cao mặt trời. Trong những văn phẩm hay h́nh ảnh của những Cơ đốc nhân nầy, họ thường dùng mặt trời để tượng trưng cho Đức Chúa Giê-su. Ví dụ như h́nh điêu khắc bên dưới bàn thờ trong thánh đường St. Peter tại La Mă đă tả Đức Chúa Giê-su như là mặt trời. (9)
Một điều khác chứng minh ảnh hưởng của Thái Dương Thần giáo trên Cơ đốc nhân đầu tiên là khi cầu nguyện, thay v́ họ hướng về thành Giê-ru-sa-lem, th́ họ lại thay đổi hướng về phương Đông, phương mặt trời mọc, và cũng là hướng mà Đức Chúa Giê-su trở lại.
Một ví dụ rơ ràng nhất về sự ảnh hưởng của Thái Dương Thần giáo là ngày sanh nhật của Thần Mặt Trời vào ngày 25 tháng 12. Đó là ngày mà người tín hữu Thái Dương Thần giáo tin rằng Thần Mặt Trời đă đáp lời cầu nguyện của họ, và không lặn sớm nữa. (Ở các xứ thuộc miền Bắc bán cầu, vào mùa đông th́ ngày càng ngắn, và đêm càng dài ra). Ngày nầy đă được Giáo hội Công Giáo La Mă tiếp nhận và áp dụng trên toàn thể địa phận của giáo hội làm ngày kỷ niệm sự giáng sinh của Đức Chúa Giê-su để có thể chiêu mộ được nhiều tín đồ Thái Dương trở về. (10)
Như vậy chúng ta thấy rằng ảnh hưởng của Thái Dương Thần giáo về sự quan trọng của ngày thứ nhất, ngày của Thần Mặt Trời, cũng không có ǵ là lạ.
Cho đến năm 312 Tây lịch, Hoàng đế La Mă, Constantine, tiếp nhận đức tin trở thành Cơ đốc nhân (v́ lư do chính trị). Vua Constantine hợp thức hóa đạo của Chúa trở thành quốc giáo. Nhà vua trở thành giáo chủ. Kể từ đây có nhiều tệ đoan xâm nhập vào đạo của Chúa. Lẽ thật bị lu mờ. Những tập tục sai lầm được tiếp nhận.
Lúc bấy giờ, Mithrais (Thần Mặt Trời) và Thái Dương Thần giáo có hàng triệu tín đồ trong khắp lănh thổ của La Mă. Để giới thiệu Cơ đốc giáo là đạo ḿnh vừa tiếp nhận cho thần dân trong nước La Mă, và vừa để thống nhất một lănh thổ rộng lớn đang suy sụp bởi nhiều phe phái, nhiều chủng tộc, nhiều tôn giáo, vua Constantine cảm thấy cần phải đi theo phong tục của đại đa số.
Vào ngày 7 tháng 3 năm 321, vua đă ra một SẮC LỆNH DÂN SỰ rằng, “Hăy để cho tất cả các chức sắc (magistrates), dân trong thành phố, và những cửa hàng buôn bán NGHỈ NGƠI trong ngày lễ thờ thần Thái Dương.” (11)
Tuy nhiên, các nông gia được miễn giữ ngày nầy với lư do là mùa gặt phải được gặt đúng lúc. Đây là sắc luật đầu tiên về ngày thứ nhất của tuần lễ. Sắc lệnh nầy có tánh cách dân sự chứ không phải tôn giáo.
Sau đó Giáo hội Công Giáo La Mă tiếp tục ra những giáo luật để làm ngày Chủ nhật trở thành ngày thánh.
Trong kỳ Hội Nghị Tôn Giáo tại Laodicea vào thế kỷ thứ 5, một giáo lịnh (29th canon) đă được truyền ra, đặt nền tảng trên sự chống báng giữa người Do Thái và Cơ đốc nhân, buộc tội những người giữ ngày Sabát của Chúa cho là chịu ảnh hưởng của Do Thái giáo,
“Cơ đốc nhân không nên bị Do Thái hóa và lười biếng trong ngày thứ Bảy nhưng phải làm việc trong ngày đó. Họ phải đặc biệt tôn kính ngày Chủ nhật (Sunday), và là Cơ đốc nhân, NẾU CÓ THỂ ĐƯỢC, không nên làm việc trong ngày đó (chủ nhật). Tuy nhiên, nếu Cơ đốc nhân bị bắt gặp nghỉ ngơi trong ngày thứ Bảy như người Do Thái, họ sẽ bị ném ra khỏi (shut out from) Đấng Cứu Thế.” (12)
Vào năm 538, trong Kỳ Đại Hội Nghị Tôn Giáo lần thứ ba tại Orleans, Pháp quốc, một giáo luật được gọi là Giáo luật thứ 28 (28th canon) cấm tuyệt đối luôn những công việc ngoài đồng ruộng để mọi người có thể đến thờ phượng tại giáo đường vào ngày thứ nhất của tuần lễ.(13)
Tiếp theo đó, Hội Nghị Tôn Giáo lần thứ hai tại Macon (Second Synod of Macon) vào năm 585, và Hội Đồng tại Narbonne (Council of Narbonne) vào năm 589, ra những điều luật bắt giữ ngày Chủ nhật một cách rất khắt khe.(14)
Đức Giáo hoàng Gregory I (590-604) cấm người ta đeo ách vào cổ của trâu ḅ và không làm bất cứ việc ǵ, ngoại trừ những lư do được cho phép. Đức Giáo hoàng Gregory II (715-731) ra chiếu chỉ rằng mỗi ngày Chủ nhật đều phải được tuân giữ từ mặt trời lặn (vesper) cho đến mặt trời lặn (vesper), và phải kiêng cữ tất cả những công việc không được phép làm.(15)
|
| 5) Tóm Tắt
Nói tóm lại, những người đi theo Chúa vào những thế kỷ đầu không hề có ư định dùng ngày thứ nhất của tuần lễ thay thế cho ngày Sabát. Họ kỷ niệm ngày Chúa sống lại vào ngày thứ nhất của tuần lễ mỗi năm một lần chứ không phải mỗi tuần lễ.
Việc giữ ngày thứ nhất của tuần lễ thay thế cho ngày thứ bảy Sabát, chỉ xảy ra tại hai thành phố La Mă và Alexandria.
Vào thế kỷ thứ 5, các Cơ đốc nhân tại các nơi khác giữ hai ngày song song với nhau. Nhưng ngày thánh, ngày của Chúa vẫn là ngày Sabát. Cho đến khi Giáo hội La Mă ra luật cưỡng ép giữ ngày thứ nhất, và bắt bớ việc giữ ngày Sabát. V́ thế mà dần dần chỉ c̣n một thiểu số trung thành giữ ngày thứ Bảy mà thôi.
|
6) Giáo hội La Mă Xác Nhận Điều Nầy
Linh mục John A. O'Brien đă viết, “Tôi đă đọc Kinh Thánh, từ câu đầu trong Sáng Thế Kư cho đến câu cuối cùng của sách Khải-huyền, tôi không t́m được một câu nào bảo hăy giữ ngày Chủ nhật làm ngày thánh. Ngày được nhắc đến trong Kinh Thánh không phải là ngày Chủ nhật (Sunday), ngày thứ nhất của tuần lễ, mà là ngày thứ Bảy (Saturday), ngày cuối cùng của tuần lễ.” (16)
Trong lần tái bản quyển Giáo-lư Công-Giáo Cho Những Người Quy Đạo (The Convert's Catechism of Catholic Doctrine) vào năm 1957, do tác giả Peter Geiermann biên soạn, có mục vấn đáp như sau (đây là quyển giáo điều chính thức của Giáo-hội La Mă, được Giáo hoàng ban phước vào ngày 25 tháng 11, 1910, dùng để dạy những người muốn gia nhập giáo hội):
“Hỏi: Ngày nào là ngày Sabát?
Đáp: Ngày thứ Bảy - Saturday - là ngày Sabát.
Hỏi: Tại sao chúng ta lại giữ ngày Chuủ nhật thay v́ ngày thứ Bảy?
Đáp: “Chúng ta giữ ngày Chủ nhật thay v́ ngày thứ Bảy v́ Giáo hội Công giáo, trong Đại Hội Nghị Tôn Giáo tại Laodicea (A.D. 336), đă dời sự trọng thể từ ngày thứ Bảy qua ngày Chủ nhật.” (17)
“Chúng tôi giữ ngày Chủ nhật thay v́ ngày thứ Bảy, v́ Giáo hội Công giáo đă dời sự thánh khiết từ ngày thứ Bảy qua ngày Chủ nhật.” (18)
“Ngày Chuủ nhật được thiết lập, không phải dựa trên Kinh Thánh, nhưng dựa trên truyền thống, và là một thể chế đặc biệt của Công giáo.” (19)
Giáo hội La Mă tự cho rằng “Giáo hội Công giáo, bởi uy quyền của Đức Chúa Giê-su, đă đổi ngày yên nghỉ qua ngày Chủ nhật để kỷ niệm ngày Chúa sống lại.” (20)
Trong khi đó chính Đức Chúa Giê-su lại phán rằng, “đương khi trời đất chưa qua đi, th́ một chấm một nét trong luật pháp cũng không qua đi được cho đến khi mọi sự được trọn.” (Ma-thi-ơ 5:18).
Ngày hôm nay, Giáo hội La Mă không công khai tuyên bố rằng ḿnh đă dời sự thánh khiết của ngày Sabát qua ngày thứ nhất của tuần lễ. Nhưng Giáo hội vẫn cho rằng ngày thứ nhất của tuần lễ quan trọng hơn ngày thứ bảy Sabát, ngày thứ nhất đă thay thế cho ngày thứ bảy, và tín hữu phải nghỉ ngơi các công việc trong ngày thứ nhất, và đi thờ phượng trong ngày thứ nhất.
Trong quyển Giáo-Lư Của Giáo-Hội Công-Giáo (Catechism of the Catholic Church) được xuất bản năm 1994, viết như sau:
“Đức Chúa Giê-su sống lại từ kẻ chết vào ngày thứ nhất của tuần lễ. V́ đây là 'ngày thứ nhất,' ngày Chúa phục-sinh nhắc lại sự tạo thế lần thứ nhất. V́ đây là 'ngày thứ tám' theo sau ngày Sabát, ngày nầy (thứ nhất) tượng trưng cho sự tạo dựng mới mà sự phục sinh của Đấng Christ đă đem lại. Đối với những người theo Chúa, ngày nầy trở thành quan trọng nhất trong tất cả mọi ngày, là ngày đầu trong tất cả những ngày lễ, là Chúa Nhật (Ngày của Chúa), tức là thứ nhất (Sunday).”
“Ngày thứ nhất của tuần lễ (Sunday) phải được phân biệt rơ ràng với ngày Sabát, là ngày mà nó tiếp nối theo cách thứ tự trong mỗi tuần; đối với Cơ đốc nhân những nghi lễ trong ngày chủ nhật đă thay thế ngày thứ bảy.”
“Trong ngày thứ nhất của tuần lễ (Sunday)... tín hữu phải nghỉ ngơi những công việc hay sinh hoạt có thể ngăn cản sự thờ phượng dành cho Chúa...” (21)
|
|
|
7) Kinh Thánh Báo Trước
Cách đây hơn 2500 năm, lời tiên tri trong Kinh Thánh đă báo trước về sự thay đổi nầy trong luật pháp của Thượng Đế. Tiên tri Đaniên, bởi sự khải thị của Thượng Đế Toàn Năng, đă thấy được t́nh h́nh chánh trị và tôn giáo của thế giới cho đến ngày cuối cùng (Đaniên 2,7-12).
Từ Đaniên đoạn 2 và 7, chúng ta thấy có bốn đế quốc sẽ lần lượt cai trị vùng Trung Đông, Tiểu Á, Âu Châu, Cận Đông cho đến ngày cuối cùng của lịch sử nhân loại. Đó là Ba-by-lôn, Mê-đô Ba Tư, Hy Lạp, và La Mă.
Trong đoạn 7, tiên tri Đaniên cho biết sau khi đế quốc La Mă bị sụp đổ, sẽ bị phân chia ra làm 10 nước. Và rồi có một quyền lực đến sau (vị vua thứ 11) sẽ dấy lên, và huỷ diệt đi 3 quyền lực trước. Vị vua hay quyền lực thứ 11 nầy, xuất phát tại Âu Châu, sẽ bách hại dân sự trung thành của Chúa cùng “thay đổi thời gian và luật pháp.” (Đaniên 7:25)
Nếu chúng ta nghiên cứu lịch sử th́ thấy rằng miền tây của Đế Quốc La Mă bị xâm lăng bởi các dân tộc người dă man Bắc Âu và hoàng đế La Mă phải dời thủ đô về miền đông. Năm 476 SC được các sử gia cho rằng Tây La Mă bị chia cắt ra bởi những dân tộc nầy. Khi hoàng đế La Mă dời thủ đô về Constantinople, quyền lănh đạo tại Âu Châu bị trống và vai tṛ của Đức Giáo hoàng được nâng cao để thay thế vào. Trải qua một thời gian tranh chấp quyền hành, dân tộc Heruls, Vandals, và Ostrogoths bị huỷ diệt, và quyền lực của Giáo hoàng La Mă trở thành độc tôn tại Âu Châu trong suốt thời kỳ trung cổ. Như vậy, quyền lực thứ 11 chính là thể chế Giáo hoàng La Mă.
Kinh Thánh tiên tri rằng thế chế nầy, vua thứ 11, đă thay đổi “thời gian và luật pháp.” (Đaniên 7:25). “Thời kỳ” hay “thời gian” là chuyển ngày thánh từ ngày thứ bảy qua ngày thứ nhất của tuần lễ. Thay đổi “luật pháp” là huỷ bỏ điều răn thứ 2 là điều dạy con người không được thờ h́nh tượng. Và tách điều răn thứ 10 ra làm hai điều để bù lại cho đủ số mười điều răn. | |
|
|
8) Dân Sự Trung Tín Với Đức Chúa Trời Trong Ngày Cuối Cùng
Khải Huyền là sách tiên tri trong Kinh Thánh nói rất nhiều về những biến cố trong những ngày cuối cùng của thế giới. Khải Huyền đoạn 12,13 và 14 là trung tâm điểm của Khải-huyền.
Theo lời tiên tri trong sách Khải Huyền đoạn 12 th́ cuộc chiến giữa thiện và ác xảy ra từ trên thiên đàng và kéo xuống đến hạ giới. Cuộc chiến gồm có 4 giai đoạn:
(1) Giữa Mi-chên, thiên sứ trưởng, cùng 2/3 thiên sứ trung thành chống lại Sa-tan hay con rồng và 1/3 thiên sứ phản loạn. Sa-tan và các sứ của nó thất bại trong giai đoạn 1 của cuộc chiến và bị đuổi xuống thế giới loài ngừơi (Khải Huyền 12:1,7,8,9).
(2) Khi bị đuổi xuống đất Sa-tan đi dỗ dành thiên hạ để phản nghịch lại cùng Đức Chúa Trời. Nhưng Đức Chúa Trời có một nhóm người trung thành với Ngài qua biểu tượng người đàn bà tinh khiết. Qua người đàn bà hay tuyển dân nầy, Đấng Cứu Thế được sinh ra đời để cứu nhân loại và Sa-tan tấn công Đấng Cứu Thế khi Ngài giáng sinh xuống trần gian (Khải Huyền 12:1,2,4,5).
Nhưng Sa-tan lại thất bại trong giai đoạn thứ 2. Đấng Cứu Thế đă hoàn tất chương tŕnh cứu rỗi bằng cách dâng chính ḿnh Ngài trên thập tự giá làm của lễ chuộc tội cho nhân loại, và Ngài đă sống lại từ trong mồ mă, chiến thắng sự chết để ban sự sống cho những kẻ tin Ngài trong ngày Chúa tái lâm.
(3) Sau khi thất bại với Đấng Cứu Thế và Ngài thăng thiên về trời, Sa-tan tấn công dân sự của Chúa trong thời gian 1 kỳ, những kỳ, và nữa kỳ, hay 1260 ngày tiên tri hay 1260 năm.
Trong giai đoạn nầy Sa-tan đổi chiến lược, xâm nhập vào hội thánh, làm lũng đoạn niềm tin. Những ai trung thành th́ bị giết. Giai đoạn nầy Sa-tan xử dụng “sừng nhỏ” hay “Công Giáo La Mă” như là một công cụ để thi hành ư đồ của nó. Nhưng Sa-tan cũng thất bại v́ Đức Chúa Trời luôn luôn có chương tŕnh để giải thoát hội thánh trung thành của Ngài, chính tân thế giới hay Châu Mỹ là vùng đất Chúa chuẩn bị cho những người bị bắt bớ v́ tôn giáo từ Âu Châu trốn sang để giữ vững đức tin (Khải Huyền 12:6,13-16).
(4) Sa-tan sẽ cố gắng một lần cuối cùng trong giai đoạn thứ tư của cuộc chiến. Nó sẽ đi tranh chiến cùng con cái c̣n sót lại của Đức Chúa Trời, tức là hội thánh giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và lời chứng của Đức Chúa Giê-su, cùng ḷng tin Đức Chúa Giê-su (Khải Huyền 12:17; 14:12).
Sa-tan sẽ dùng 2 quyền lực của “hai con thú” trong Khải Huyền 13 để thực hiện ư đồ của nó trong giai đoạn cuối cùng của trận chiến. Con thú thứ nhất trong Khải Huyền 13:1-10 là kết tụ của những đặc điểm của những con thú trong Đaniên đoạn 7: sư tử, gấu, beo, con rồng. Con thú nầy bị một vết thương cho đến chết, năm 1798 bị quân đội CaỬch Mạng Pháp chấm dứt quyền hành.
Nhưng Khải Huyền cho biết rằng vết thương đó sẽ được lành và cả thế giới đều đi theo trong ngày cuối cùng (Khải Huyền 13:3,4). Quyền lực Công Giáo La Mă qua trung tâm điều hành là Vatican sẽ được phục hồi trong ngày cuối cùng, và sự bắt bớ sẽ xảy ra cho dân sự trung tín của Chúa (Khải Huyền 13:7,8; Mathiơ 24:9).
C̣n người đàn bà tinh khiết hay hội thánh mà Chúa đem vào trốn trong đồng vắng để tránh sự tấn công của Sa-tan trong giai đoạn thứ ba - thời trung cổ (Khải Huyền 12:13-16) sẽ biến thành người đàn bà tà dâm hay hội thánh tà dâm, từ bỏ đường lối Chúa, từ bỏ điều răn của Chúa, và quay trở lại cộng tác với quyền lực của “sừng nhỏ” hay “con thú thứ nhất” trong Khải Huyền 13 để bắt bớ hội thánh c̣n sót lại (Khải Huyền 17:1-6; II Têsalônica 2:3).
Hay nói cách khác, trong ngày cuối cùng, các hệ phái cải cách giáo tại Hoa kỳ sẽ bội đạo và sẽ bắt tay với Công Giáo La Mă để bắt bớ dân sự c̣n sót lại của Chúa và thống trị thế giới. Nhưng lần nầy chính Đức Chúa Giê-su sẽ ra tay để giải thoát dân sự của Ngài (Đaniên 12:1; Khải Huyền 17:14; 19:11-21).
Khải Huyền 13 và 14 cho chúng ta thấy rằng giai đoạn thứ tư của cuộc chiến đó sẽ lan tràn và bao gồm cả thế giới trong những ngày cuối cùng của nhân loại.
Đề tài chính của Khải Huyền 13 và 14 là sự thờ phượng. Khải Huyền 13 câu 1 cho biết, Sa-tan khiến thế giới thờ phượng một thế lực tôn giáo (con thú thứ nhất lên từ biển) do Sa-tan thiết lập. Sa-tan sẽ xử dụng một thế lực thứ hai, tức con thú lên từ đất (Khải Huyền 13:11), để bắt buộc dân cư thế giới thờ lạy thế lực tôn giáo thứ nhất.
Nhưng Khải Huyền 12:17 và đoạn 14 cho biết rằng, sẽ có một thiểu số sẽ không thờ phượng thế lực tôn giáo do Sa-tan thiết lập, mà họ sẽ chọn để thờ phượng Đức Chúa Trời Chân Thật là Đấng “dựng nên trời, đất, biển, và các suối nước.” Họ sẽ nhịn nhục để “giữ (các) điều răn của Đức Chúa Trời và giữ ḷng tin Đức Chúa Giê-su.” (Khải Huyền 14:12). (Trong bản tiếng Việt không có chữ ”các” điều răn).
Chẳng những họ thờ phượng Ngài, mà họ c̣n đi ra rao giảng khắp đất, kêu gọi thế giới quay trở về thờ phượng Đức Chúa Trời chân thật (Khải Huyền 14:6,7). Khải Huyền 7:9 cho biết rằng “vô số người, không ai đếm được, bởi mọi nước, mọi chi phái, mọi dân tộc, mọi tiếng” sẽ tiếp nhận sứ điệp nầy.
|
|
|
9) Ḷng Tin Nơi Đức Chúa Giê-su & Điều Răn Đức Chúa Trời
Ḷng tin nơi Đức Chúa Giê-su và điều răn của Đức Chúa Trời đóng một vai tṛ quan trọng trong cuộc chiến tranh tôn giáo giữa thiện với ác, thật và giả trong ngày cuối cùng (II Têsalônica 2:10-13; Khải Huyền 12:17; 14:12).
Không có đức tin trong Đức Chúa Giê-su chúng ta sẽ không có sức mạnh hay quyền năng để chiến thắng. Không có điều răn của Đức Chúa Trời chúng ta sẽ không có phương hướng, không có chiến tuyến, không có dấu hiệu để nhận ra vị trí của chúng ta.
Đức Chúa Trời ban cho dân sự Ngài 10 Điều răn trong Xuất Êdíptô Kư 20:1-17. Mười Điều răn dạy chúng ta như sau:
(1) không thờ thần nào khác ngoài Chúa;
(2) không làm, không thờ lạy, và không hầu việc tượng chạm;
(3) không được xúc phạm đến Danh Chúa;
(4) hăy nhớ ngày thứ bảy giữ làm ngày thánh của Chúa v́ Ngài là Đấng Tạo Hoá;
(5) hăy hiếu kính cha mẹ;
(6) không giết người;
(7) không phạm tội tà dâm;
(8) không trộm cướp;
(9) không nói dối;
(10) không tham lam vợ người và tài sản của người.
Bốn điều đầu dạy chúng ta phải liên hệ với Đấng Tạo Hóa của chúng ta như thế nào. Đây là thiên đạo. Sáu điều sau dạy chúng ta trong bổn phận đối với loài người, hay là nhân đạo. Khải Huyền 13 và 14, cho ta thấy rằng cuộc chiến giữa thiện và ác trong ngày cuối cùng sẽ tập trung vào bốn điều răn đầu:
1) Điều răn thứ nhất kêu gọi thờ phượng Đức Chúa Trời, nhưng Sa-tan sẽ có kế hoạch để ép buộc thế giới sẽ thờ phượng con thú và con rồng (Khải Huyền 13:4,12; 14:9).
2) Điều răn thứ hai Chúa dạy đừng thờ h́nh tượng, nhưng thế lực giả dối kia sẽ bắt buộc dân cư thế gian thờ h́nh tượng (Khải Huyền 13:14-15).
3) Điều răn thứ ba Chúa dạy hăy tôn trọng Danh Chúa. Nhưng thế lực giả dối của Sa-tan sẽ xúc phạm đến Danh Chúa và phạm đến đền thờ trên trời là nơi Đức Chúa Giê-su đang là Thầy Tế Lễ Cả cầu thay cho tội lỗi chúng ta (Khải Huyền 13:6; Hêbơrơ 4:14-16; 8:1-2). Muốn biết như thế nào là phạm thượng xin đọc trong Kinh Thánh sách Giăng 10:33 và Luca 5:21.
4) Điều răn thứ tư Chúa dạy hăy giữ ngày thứ bảy là ngày Sabát thánh, là ngày của Đấng Tạo Hóa, làm ngày thờ phượng Chúa và là dấu hiệu của Chúa với dân sự Ngài (Xuất Êdíptô Kư 20:8-11; Êxêchiên 20:12,20).
Nhưng quyền lực của Sa-tan chống lại điều răn của Chúa, ép buộc dân cư thế gian nhận một dấu riêng của nó, thay v́ nhận ấn của Đức Chúa Trời (Khải Huyền 13:16,17; 14:9-11; II Têsalônica 2:8-10).
KhảiHuyền 14:7 kêu gọi thế giới hăy “thờ phượng Đấng dựng nên trời, đất, biển và các suối nước.” Tức là quay trở về thờ phượng Đấng Tạo-Hóa. Trong điều răn thứ tư, Chúa dạy dân sự của Ngài “hăy nhớ”Ô ngày thứ bảy giữ làm ngày thánh v́ “trong sáu ngày Đức Giê-hô-va đă dựng nên trời, đất, biển và muôn vật ở trong đó, qua ngày thứ bảy th́ Ngài nghỉ” (Xuất Êdíptô Kư 20:8-11).
Khi chúng ta so sánh Khải Huyền 7:1-4 và 14:1-5, chúng ta thấy rằng 144,000 (những người đi tiên phong hay trái đầu mùa để rao báo cho thế giới) người nhận được ấn của Chúa, và ấn đó có Danh của Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con.
Chúng ta hăy suy nghĩ trong bốn điều răn, th́ điều nào có danh của cả Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con là Đấng Tạo Hóa trong đó? Điều răn thứ nhất dạy rằng đừng thờ một thần nào khác. Điều răn thứ hai dạy rằng đừng làm h́nh tượng để mà thờ. Điều răn thứ ba bảo người ta tôn trọng Danh Chúa. Chỉ có điều răn thứ tư là cho chúng ta biết lư do tại sao ta nên thờ lạy và tôn trọng Danh Chúa; chỉ có điều răn thứ tư là chỉ cho chúng ta phương cách để ta thờ Chúa, và tôn trọng Danh Chúa v́ Ngài là Đấng Tạo Hóa, và ngày Sabát là ngày của Ngài.
Chúng ta hăy thử suy nghĩ, trong 10 điều răn, 6 điều sau (nhân đạo), trong chúng ta ai cũng cho là có lư hết, dù rằng chúng ta có vi phạm. Nhưng đối với bốn điều răn đầu, nếu tôi thờ một ḿnh Chúa, không thờ h́nh tượng đâu có ai nhận ra, chỉ ḷng tôi biết thôi. Nếu tôi không tạo một thần tượng trong tư tưởng tôi để thờ, th́ cũng chẳng có ai biết hết. Nếu tôi không xúc phạm Danh Chúa, th́ cũng không ai biết rằng tôi có thờ phượng Chúa hay không.
Nhưng nếu tôi đi thờ phượng trong ngày thứ bảy, nếu tôi giữ ngày thứ bảy làm ngày thánh, không đi làm việc, những người chung quanh sẽ biết rằng tôi thờ phượng Chúa. Hơn thế nữa, giữ ngày Sabát, tức là tôi có thể sẽ mất việc làm, sẽ không sinh hoạt b́nh thường được.
Giữ ngày Sabát có thể bị thiệt tḥi theo lối nh́n của con người. Nhưng v́ ḷng trung thành với Chúa, chúng ta sẽ vâng theo lời Ngài. Chúng ta bước đi không phải bằng mắt thấy, mà bằng đức tin (II Côrinhtô 5:7).
Nếu trung thành mà được quyền lợi vật chất, th́ đâu cần phải trung thành. Cho nên điều răn thứ tư rất quan trọng. Đó là dấu hiệu cho biết rằng ai là dân sự của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời phán rằng, “Ta cũng cho chúng nó những ngày Sabát ta làm một dấu giữa ta và chúng nó, đặng chúng nó biết rằng ta là Đức Giê-hô-va biệt chúng nó ra thánh... Hăy biệt những ngày Sabát ta ra thánh, nó sẽ làm dấu giữa ta và các ngươi, hầu cho các ngươi biết rằng ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi.” (Êxêchiên 20:12,20).
V́ thế trong ngày cuối cùng, dấu hiệu của dân c̣n sót lại của Chúa sẽ là “giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và lời chứng của Đức Chúa Giê-su.” (Khải Huyền 12:17). “Đây tỏ ra sự nhịn nhục của các thánh đồ: chúng giữ điều răn của Đức Chúa Trời và giữ ḷng tin Đức Chúa Giê-su.” (Khải Huyền 14:12). | |
|
|
10) Kết Luận
Chúng ta lựa chọn vâng theo điều răn thật do chính miệng Thượng Đế phán hay điều răn đ | |